Danh mục

Tư vấn cai nghiện
Que thử Ma túy tổng hợp (Ma túy đá)
Thuốc chữa bệnh sâu răng
Chữa bệnh kinh nguyệt
 

Cai nghiện Ma túy đá (Ma túy tổng hợp) bằng Việt y cổ truyền

Cai nghiện Ma túy đá (Ma túy tổng hợp) bằng Việt y cổ truyền

     - Ma túy đá: là một dạng của ma túy tổng hợp có tên khoa học là Methamphetamin viết tắt là “Meth”. Ma túy “Đá” có cả ở dạng viên nén nhưng ở Việt Nam chỉ phổ biến ở dạng tinh thể trông như cánh mỳ chính hoặc phèn chua. So với cơn bão trắng những năm 90 thì sức hủy diệt của bão Đá hiện nay khốc liệt hơn rất nhiều lần. Nó cuốn đi tất cả mọi thành phần, mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi. Để cổ súy cho lối ăn chơi mới họ tuyên truyền rằng đây là thú ăn chơi sành điệu đẳng cấp, không gây nghiện nên họ đua nhau đập đá phá núi. Mà không biết rằng “Meth” đang hàng ngày hàng giờ hủy hoại thân xác họ.

    Hút "đá" bằng một dụng cụ thủy tinh gọi là “ục”

Hút "đá" bằng một dụng cụ thủy tinh gọi là “ục”

- Người chơi đưa “Meth” vào cơ thể bằng hai cách: Hít  trực tiếp bằng đường mũi hoặc hút bằng một dụng cụ thủy tinh gọi là ục”. “Meth” vào phổi rồi lên não xâm nhập vào vùng làm dịu não. Vùng dịu não chứa nhiều tế bào chuyên tiết chất Dopamin. “Meth” kích thích các tế bào này tiết ồ ạt Dopamin gây nên sự khoái cảm cao độ cho người sử dụng. Đồng thời “Meth” cũng tràn ngập xung quanh tế bào thần kinh trung ương ngăn chặn việc tái sử dụng Dopamin, ức chế các thụ thể thèm ăn đính ở bề mặt các tế bào làm mất cảm giác thèm ăn kéo dài, làm rối nhiễu nhịp thức ngủ bằng cách kéo dài nhịp thức ngủ từ 24 - 72h.

- Khi no thuốc: sung mãn, hưng phấn, tự tin, hoạt động thể chất liên tục làm những việc mà bình thường không dám làm như: nhảy nhót, la hét, làm tình tập thể, chạy xe điên cuồng, nhảy từ trên cao xuống, tấn công người khác, tự hủy hoại cơ thể. Người sử dụng Meth lâu dài tinh thần hoảng loạn, thân hình tiều túy bộ dạng thảm hại.

- Khi đói thuốc: Không có sức lực, tư tưởng không tập trung, tư duy vô ích. Trí nhớ kém, lo lắng, hoang tưởng, ảo giác, sợ bị theo dõi, Sát hại nghi ngờ vợ hoặc bạn tình phản bội và gây ra những hành động nguy hiểm khó lí giải như: tự gây thương tích, cố ý gây thương tích, tự sát hoặc giết người.

- Hợp chất “Meth” cực độc với tế bào thần kinh. Không  dừng lại ở đó hợp chất độc này nguy hại hơn hẳn các loại ma túy thông thường khác. Vì nó ức chế các thụ thể báo cảm giác thèm ăn làm cho não tê liệt ngay từ khâu đầu của hệ thống tiêu hóa, cũng có nghĩa là triệt bỏ luôn nguồn sống cho các tế bào đẩy cơ thể vào trạng thái suy kiệt với tộc độ rất nhanh. Như các nhà chuyên môn phân tích khi cơ thể bị cắt nguồn dinh dưỡng từ bên ngoài thì nó lập tức huy động năng lượng dự trữ từ khối cơ bắp để nuôi sống các tế bào. Khi năng lượng dự trữ cạn kiệt cơ thể sẽ rơi vào tình trạng suy kiệt. Nếu không được chữa trị kịp thời người bệnh sẽ chết. Mọi biểu hiện bệnh thường thấy ở người nghiện "Meth" đều có nguồn gốc từ các tế bào đói ăn đặc biệt là các tế bào thần kinh.

      - Chữa bệnh ngộ độc Meth đòi hỏi phải huy động nhiều nguồn tri thức y dược. Trên cơ sở lấy kiến thức tây y hiện đại làm chủ đạo chúng tôi đã vận dụng linh hoạt kinh nghiệm cai nghiện ma túy (nhóm opiate), kinh nghiệm chữa bệnh nhiễm thuốc độc, thuốc lú và điều trị bệnh nhân tâm thần (dân gian gọi là bệnh rồ.Việt y cổ truyền đã vận dụng phương pháp chữa trị cho bệnh nhân ngộ độc "Meth" bước đầu thu được kết quả rất khả quan giúp nhiều bệnh nhân khôi phục sức khỏe nhanh và trở về trạng thái tỉnh táo như người bình thường.

ĐIỀU TRỊ NGỘ ĐỘC METHAMPHETAMIN BẰNG VIỆT Y CỔ TRUYỀN

      - Việt y cổ truyền cho rằng: Cai nghiện chất ma túy bản chất là phục hồi các tế bào chuyên tiết ma túy nội sinh (Enkephalin) cho cơ thể để cơ thể không còn cần đến ma túy ngoai nhập. Đối với ma túy Đá thì việc cai nghiện phức tạp hơn rất nhiều. Vì chất Meth đã lũng đoạn quá trình chuyển hóa hóa sinh của cơ thể và hậu quả là các tạng, phủ ức chế lẫn nhau làm cho người nghiện suy kiệt về sức khỏe. Thần kinh bị tổn thương và rơi vào trạng thái ảo giác hoang tưởng không làm chủ được hành vi.

      - Trong cơ thể con người đang sống đều có chất thần gọi là chất nội thần. Khi Metham vào cơ thể quá nhiều sẽ làm nhược thần vì ma túy là chất tương đồng với nội thần nên gọi là ngoại thần. Khi ngoại thần lấn át nội thần thì sẽ xuất hiện hiện tượng nhược thần làm xuất hiện hội chứng khí hư.

      Khí hư có 9 trạng thái: (1) Khí hãm, (2) khí suy, (3) khí lạnh, (4) khí nóng, (5) khí uất, (6) khí suyễn, (7) khí đông, (8) khí úng tắc, (9) khí nghịch. Cả 9 trường hợp khí hư đều gặp rải rác ở người bệnh nghiện chất ma túy và gây ra các bệnh nội tạng. Nếu cả 9 trường hợp đều tương tác gây phản ứng dây chuyền làm tắc nghẽn đường dẫn truyền đối lưu giữa các tạng, phủ sẽ làm phát sinh triệu chứng tâm thần (y học hiện đại đọc là bệnh loạn thần).

      Việt y cổ truyền quan niệm: Sự tồn tại của các Tạng, Phủ trong cơ thể không phải chỉ vì nó, cho nó mà là cho sự sống của toàn cơ thể. Chỉ tiêu tổng hợp nhất của sự sống là “biết nghĩ” (tư duy). Do đó, mỗi Tạng, Phủ đều có những chức phận chính yếu, cụ thể để làm nên sự “biết nghĩ” đó. Ví dụ: Gan tàng Hồn; Tim và Mệnh Môn tàng Thần; Tỳ tàng Ý; Thận tàng Chí; Phổi tàng Phách; Mật tàng Dũng, người có mật đầy thì anh hùng; Mật lưng thì nhút nhát, v.v... Vì có chức phận với toàn cơ thể nên mỗi tạng phủ đều có đường truyền và thu tín hiêụ đi khắp cơ thể; đường chuyền dọc thân gọi Kinh, đường vắt ngang thân gọi là Lạc. Não bộ cùng mạng lưới dây thần kinh trong cơ thể với Hệ thần kinh dịch thể chỉ là những tuyến thông tin hữu hình là bộ phận của Hệ thống Kinh Lạc.

      Việt y cổ truyền không coi việc “biết nghĩ” (tư duy) là độc quyền của não bộ mà là sự tổng hòa của chuyển hóa trong cơ thể sống. Các tế bào Não chỉ là nơi tập hợp thông tin để làm nên quá trình tư duy. Loài người đã nhận thấy hiện tượng này rất sớm, nhưng còn tản mạn, rời rạc: Người phương Tây cổ cho rằng suy nghĩ là ở trái tim; còn người Việt cổ lại cho rằng sự biết nghĩ là ở vùng bụng: nghĩ bụng; bụng bảo dạ; người tốt bụng; kẻ xấu bụng, v.v... Qua sự dẫn giải trên có thể nói rằng cả người phương Tây cổ và người Việt cổ xác định vùng khu trú của tư duy là Tim và vùng bụng không phải hoàn toàn là vô lý.

      Nhờ vận dụng y lý của Việt y cổ truyền mô tả diễn biến sinh học của quá trình tư duy vào việc cai nghiện chất ma túy, nên đã xây dựng được liệu pháp khôi phục sự hoạt động bình thường cho các tế bào thần kinh đã bị ma túy ức chế. Y lý và Dược lý tham gia hình thành liệu pháp này đều được sưu tầm trong dân gian qua nhiều đời làm thuốc của gia tộc tôi, chưa được công bố, vì thế mả chưa có tính pháp lý. Song, đối với con bệnh thì Y lý cao hơn Pháp lý. Mấu chốt là có khỏi bệnh hay không mà thôi. Pháp lý chỉ có tác dụng ngăn chặn các hành vi lừa bịp chứ không thể chữa khỏi bệnh. Pháp lý rất cần thiết để giữ gìn trật tự an ninh xã hội trong chữa bệnh. Nhưng nếu pháp lý sa vào vũng bùn quan liêu thì đó chính là nguyên nhân làm cản trở Y học phát triển.

      - Meth là chất ngoại thần cường bạo hơn chất nội thần gây tổn thương các tạng phủ: có nghĩa là nó làm cho các tạng quá đầy và tốc độ xuất nhập của các phủ quá nhanh phá vỡ nhịp điệu sinh lí bình thường.

     - Bằng cách quan sát thực tế chữa bệnh của nhiều thế hệ thầy Lang tổ tiên. Ta đã đúc kết về mối quan hệ của tạng phủ được Tuệ Tĩnh ghi lại thành văn "... Can truyền hàn sang tâm thì phát cuồng, trong ngực tắc nghẽn….Can truyền nhiệt sang tâm thì chết v.v...” (Tuệ Tĩnh toàn tập trang 420 - 421)

      - Nếu dùng ngôn ngữ Sinh - Hóa - Y học hiện đại để dịch cách luôn bệnh của Việt y cổ truyền thì có nghĩa như sau:

      - Methamphetamin khi vào cơ thể tạo ra hiện tượng ức chế cạnh tranh với các tế bào chuyên tiết chất dẫn truyền thần kinh có gốc thuộc phiện nội sinh để kích thích các tế bào chuyên tiết Dopamin và chỉ có Dopamin mới kích hoạt tổ hợp thần kinh của hệ thống làm dịu não. Tức là tạo ra khoái cảm cực độ cho người sử dụng chất ma túy. Methamphetamin đã chiếm lấy chức phấn kích thích các tế bào chuyên tiết Dopamin. Trong đó các tế bào của 12 đôi dây thần kinh sọ cũng bị Metha thâm nhập. Đặc biệt là đôi dây thần kinh phế vị (dây thần kinh sọ số X) bị thâm nhiễm nặng nề nhất. Đôi dây thần kinh phế vị xuất phát từ mặt dưới hành tủy ở não rồi tỏa đi khắp cơ thể tới các nội quan quan trọng. Đôi dây thần kinh phế vị là dây chính của hệ thần kinh phó giao cảm mang các sợi thần kinh vận động tới tim, phổi, dạ dày, gan, thận... Dây thần kinh phế vị còn chứa các sợi thần kinh cảm giác chạy từ nội tạng tới não.

      - Như vậy muốn cai nghiện Meth thì cùng lúc phải đồng thời giải quyết được các vấn đề sau:

      + Giải độc triệt để độc tố Meth đã nhiễm vào hệ thần kinh và các tổ chức tạng, phủ.

      + Cung cấp năng lượng để cấp cứu các tế bào thần kinh và chống suy kiệt cơ thể.

     +  Dùng thuốc làm dịu các cơn điên (loạn thần) đồng thời làm dịu các thụ thể ở các khớp nối (xinap), ở đầu mút các tế bào thần kinh đang khát Dopamin (nguyên nhân sinh ra cảm giác có sâu bọ bò dưới da). Đồng thời với các thuốc giải sự ức chế nội quan ở tạng phủ, khôi phục chức năng chuyển hóa hằng định của các cơ quan nội tạng. Còn nếu chỉ tập chung đưa thuốc vào hệ thần kinh không thôi thì chưa triệt được gốc bệnh.

THUỐC CHỮA BỆNH NGỘ ĐỘC METHAMPHETAMIN

      - Thuốc gồm các loại dược thảo Việt y là dung dược nghĩa là thuốc không có độc tố, loại thứ nhất có tên là Phục Thần dùng trong 7-15 ngày, loại thuốc thứ hai có tên là Dưỡng Thần dùng kế tiếp sau khi người bệnh đã thức tỉnh

      - Chất độc Meth vào cơ thể sau 3 ngày cơ bản đã bị bán hủy hết nếu không được dùng tiếp sẽ xuất hiện triệu chứng bồn chồn, không yên và sau đó là trầm cảm, lo sợ. Đây là thời điểm tốt nhất để bắt đầu điều trị bằng thuốc Phục Thần. Thời gian từ 7-15 ngày tùy từng trường hợp cụ thể khi có dấu hiệu thức tỉnh thì chuyển sang thuốc dưỡng thần. Giai đoạn dưỡng thần có thể kéo dài để củng cố kết quả cai nghiện.

      Những bài thuốc chính của Việt y cổ truyền dùng để cai nghiện Ma túy Đá

I. Những Bài thuốc Phục Thần.

  Bài số 1.
      Bài thuốc này dùng để Phục thần cho người nghiện đã ở vào tình trạng điên cuồng.

1. Ngưu hoàng  40 gam (Sạn mật của con trâu già mắc bệnh vẹo cổ). Vị Ngưu hoàng được dùng theo kinh nghiệm gia truyền thường làm thuốc trấn tĩnh và mạnh tim trong các triệu chứng điên cuồng, co quắp. Trong quá trình dùng kiến thức Hóa - Sinh hiện đại để giải mã các bài thuốc cổ thì thấy rằng: năm 1940 các nhà bác học Nhật bản đã thấy trong Ngưu hoàng có axit cholic có tác dụng trấn tĩnh. Năm 1956, Chu Nhan (Trung quốc) đã báo cáo thấy Ngưu hoàng có tác dụng bảo vệ được chuột nhắt khỏi tác dụng co quắp gây nên bởi Cocain và Mophin.
2. Hoàng liên 40 gam
3. Hoàng cầm
4. Xạ hương 10 gam
5. Băng phiến 10 gam
6. Đỉnh sừng trâu già 40 gam (Bài thuốc cổ ghi là sừng tê giác, vị thuốc này hiện nay khó kiếm. Tê giác có bán trên thị trường với giá đắt hơn cả vàng nhưng đều là tê giác giả. Tôi thay bằng mút sừng trâu vẫn có hiệu quả)
7. Bột nghệ vàng

     Các vị tán nhỏ ngào với mật ong hoang dã ủ yếm khí trong 36 giờ viên lại thành viên nặng 4 gam. Dùng bột chu sa làm áo. Thuốc được sấy khô ở nhiệt độ 560C, bào quản trong hộp kín ở trong môi trường có độ ẩm 40% và nhiệt độ phòng không quá 250C. Ngày uống 3 viên cách nhau 5 giờ. Uống đến khi ngừng điên thì chuyển sang uống thuốc Dưỡng thần.

Bài số 2
      Bài thuốc dùng cho người mới điên từng cơn thể nhẹ, sau cơn điên lại tỉnh táo như thường.

1. Phục thần 40 gam (còn có tên là Bạch Phục linh, thuộc họ nấm, được dùng rất phổ biến trong dân gian làm thuốc lợi tiểu, phục thần định tâm, an thần chữa hồi hộp, mất ngủ, sợ hãi)
2. Ngưu hoàng 20 gam
3. Thiên chúc hoàng 40 gam. Thiên chúc hoàng là cặn nước đọng ở đốt một số cây nứa mọc ở nước Việt ta  được dùng phổ biến trong dân gian. Tham gia chữa các bệnh trẻ con kinh giật, người lớn bị sốt mê man, thanh nhiệt trừ đờm, định tâm, an thần.
4. Chu sa 20 gam (Dùng làm áo thuốc)
5. Hạt cải trắng 40 gam
6. Bán hạ chế  25 gam
7. Trần bì (bỏ hết phần trắng trong cùi) 20 gam
8. Gừng khô 20 gam
9. Nhục quế (cạo bỏ phần ngoài) 20 gam
10. Thach xương bồ 20 gam
11. Cam thảo 20 gam
12. Nhân sâm 20 gam

     Tất cả ngào với mật ong hoang dã, lấy lá sen già bọc kín lại để trong môi trường có độ ẩm 70% nhiệt độ 300C trong 36 giờ, mở lá sen ra lấy thuốc  viên lại thành viên nặng 5 gam. Ngày uống 3 viên chia làm 3 lần, mội lần cách nhau 5 giờ. Uống khoảng 15 thang thì tĩnh tâm lập tức chuyến sang uống thuốc Dưỡng thần.

II. Những Bài thuốc Dưỡng thần

Bài thuốc số 1
      Bài thuốc này điều trị cho những người nghiện đã bị Thận hư.

1. Sì To 40 gam. (Tên khoa học  là Valeriana Jtamanisi Jones) Người Mèo  vùng Sapa (Lào Cai) gọi tên cây này là Sì To. Vị thuốc có tác dụng chống co thắt, an thần, động kinh, sốt cuồng, dịu thần kinh.
2. Lá cây xấu hổ 20 gam. Xấu hổ có tác dụng làm chậm thời gian xuất hiện co giật của cacdiazot. Tác dụng giải độc axit asenơ có trong ma túy đá rất rõ. Khi có lá xấu hổ tham gia bài thuốc thì hô hấp tế bào tăng lên rất rõ.
3. Thục địa 40 gam (sao cháy)
4. Sinh địa 40 gam (sao khô)
5. Nguyên sâm 40 gam
6. Mạch đông 20 gam (khử tâm)
7. Phục thần 20 gam
8. Sơn thù 20 gam
9. Hoàng liên 15 gam
10. Ngũ vị tử 4 gam
      Các vị tán nhỏ cho vào bao giấy chống ẩm mỗi liều 5 gam uống với nước trắng chín ở nhiệt độ 250C, uống cùng cao Lạc tiên.
11.Cao Lạc tiên. Cách chế: Cây  Lạc tiên 50gam, lá Vông 30gam, Liên tâm 2,2 gam, đường vàng 90gam đun với 100ml nước giếng khơi (không được dùng nước máy) cô đặc thành cao, cho uống cùng với thuốc mỗi lần hai thìa canh. Uống 35 thang sẽ khỏi bệnh.

Bài thuốc số 2
      Bài thuốc này dùng cho người nghiện bị khí hư. Triệu chứng: tự nhiên mắt tối sầm ngã lăn hôn mê, trong cổ có đờm. Quá trình mắc nghiện ma túy của người này thường dâm dục quá độ làm cho chân khí suy kém.

1. Nhân sâm 40 gam
2. Hoàng kỳ 40 gam
3. Phục thần 20 gam
4. Phụ tử 2 gam (sử dụng theo hướng dẫn của thầy thuốc)
5. Bán hạ 4 gam
6. Hạt cải trắng 15 gam
7. Xương bồ 2 gam
8. Thiên chúc Hoàng 10 gam.
9. Bạch truật 40 gam (tẩm hoàng thổ sao khô)
10. Quả dành dành còn gọi là chi tử 20 gam.

      Sắc với 1 lít nước còn lại 400 ml chia làm 3, uống 3 lần trong ngày, cách nhau 4 giờ. Uống liên tục 35  thang sẽ khỏi bệnh.

     Các Bài thuốc trên mới chỉ là công thức chung không thể ứng dụng ngay được. Khi ứng dụng cụ thể cho từng người thì phải gia giảm theo thực bệnh. Bài thuốc có thể hiệu nghiệm với người này nhưng lại không có hiệu quả với người khác. Các vị thuốc trước khi dùng phải qua khâu chế biến mới đạt được dược tính cần có của nó khi tham gia bài thuốc. Người bệnh muốn áp dụng phải được sự hướng dẫn trực tiếp của thầy thuốc.

_Việt Y Cổ Truyền_
"Nhận chữa các bệnh nan y, mãn tính bằng thuốc cổ truyền thuần việt"

Các bài viết khác:

Hỗ trợ chữa bệnh

Tư vấn - hỗ trợ

    Thầy thuốc tư vấn
    04.39 92 23 29
    04.39 91 38 66
    Hotline
    04.85 86 86 88